Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên. Hai năm thực hiện Đề án tăng cường công tác quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
megaxem, megaxem cinema, Megaxem Cinema, Phim HD, Phim HD Online, phim hd, phim hd online, phim online, phim hanh dong, phim Full HD, , két sắt, ket sat, két sắt hàn quốc, két sắt dongsung, két sắt xuất khẩu, két sắt cao cấp, két sắt khách sạn, két sắt hòa phát, két sắt vdh, két sắt ngân hàng, két sắt leeco, két sắt vân tay, két sắt mỹ, ghế văn phòng, bàn làm việc, ghế giám đốc,

banner-dep1

Hai năm thực hiện Đề án tăng cường công tác quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.

E-mail Print PDF

 

Trong bối cảnh kinh tế - xã hội của tỉnh đang trên đà tăng trưởng mạnh, nhu cầu sử dụng tài nguyên sẽ gia tăng, việc gây tác động ảnh hưởng lớn đến môi trường trong khi các quy định pháp luật về khoáng sản và môi trường đang có nhiều thay đổi là điều khó tránh khỏi. Để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường đáp ứng nhu cầu trong tình hình mới, Đề án tăng cường công tác quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016-2020 đã được thông qua tại kỳ họp thứ 4 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Nguyên khóa XIII.


Kết quả triển khai thực hiện sau 02 năm (2016 - 2017)

Với những mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp được đề ra một cách cụ thể, lâu dài và có ý nghĩa quan trọng, bước đầu Đề án đã thu về những kết quả hết sức khả quan.


Trước hết, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý Tài nguyên khoáng sản (TNKS) và Bảo vệ môi trường (BVMT) luôn được quan tâm chú trọng triển khai dưới nhiều hình thức, hướng đến nhiều đối tượng khác nhau. Một số nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tuyên truyền theo danh mục đề xuất trong Đề án đã được triển khai thực hiện theo đúng tiến độ. UBND cấp huyện, xã đã làm tốt hơn công tác quản lý nhà nước về TNKS và BVMT trên địa bàn quản lý; tích cực tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật cho các tổ chức, cá nhân và nhân dân trên địa bàn.


Công tác cải cách hành chính đã có những bước tiến mới tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân thực hiện thủ tục hồ sơ theo đúng quy định, đáp ứng yêu cầu về thu hút đầu tư vào tỉnh Thái Nguyên. Cụ thể: Năm 2017, tỉnh đã rà soát, chuẩn hóa 21 thủ tục hành chính về môi trường thuộc thẩm quyền giải quyết ở cả 3 cấp tỉnh, huyện, xã, năm 2018 đã công bố 18 thủ tục lĩnh vực địa chất, khoáng sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tài nguyên và Môi trường. Trong đó, có 6 thủ tục được rút gọn thời gian so với quy định, 04 thủ tục hành chính đăng ký dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3.


Với sự thay đổi của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về khoáng sản và bảo vệ môi trường, các sở, ngành đã kịp thời rà soát, tham mưu UBND tỉnh cụ thể hóa và triển khai kịp thời đến từng nhóm đối tượng, phù hợp với điều kiện thực hiện ở tỉnh. Trong đó, một số nội dung đã được cụ thể hóa bằng các chỉ thị, các văn bản mang tính quy phạm. Một số quy định về BVMT đối với từng lĩnh vực cụ thể đang được các sở, ngành triển khai xây dựng như: quy định BVMT trong khai thác chế biến khoáng sản, trong các khu, cụm công nghiệp, các cơ sở y tế, quy định về quản lý chất thải bỏ từ hóa chất bảo vệ thực vật, quy định BVMT đối với làng nghề... Trong năm 2016-2017, các quy hoạch khoáng sản của tỉnh đã được các Sở ngành tham mưu lập mới hoặc điều chỉnh, bổ sung để đảm bảo tính thực thi và phù hợp quy định pháp luật hiện hành cũng như điều kiện, bối cảnh ở tỉnh. Đến nay, về cơ bản các loại khoáng sản trên địa bàn tỉnh đã được lập quy hoạch, làm cơ sở cho công tác quản lý theo quy định của pháp luật.


Trong thời gian qua, sự phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương trong thẩm định, cấp phép được tăng cường thông qua các cuộc họp liên thông thẩm định đề xuất dự án, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, cấp phép thăm dò, phê duyệt trữ lượng, khai thác khoáng sản, kiểm tra thực địa khu vực thực hiện dự án,.... Hội đồng thẩm định đã được kiện toàn lại đề cao chất lượng thông qua việc mời các chuyên gia đầu ngành, các nhà quản lý có kinh nghiệm tham gia hội đồng; công tác thẩm định hỗ trợ thông qua khảo sát thực tế khu vực thực hiện dự án được tăng cường; đồng thời quy trình thực hiện thủ tục hành chính nội bộ, tổ chức giám sát nội bộ cũng được ban hành để đảm bảo thời gian xử lý hồ sơ theo quy định, qua đó nâng cao chất lượng công tác thẩm định hồ sơ cấp phép trong lĩnh vực khoáng sản và BVMT, giảm dần thời gian thực hiện theo quy trình.


Năm 2016-2017, Hội đồng đấu giá quyền khai thác khoáng sản tỉnh Thái Nguyên đã tổ chức đấu giá đấu giá quyền khai thác khoáng sản đảm bảo tính công khai minh bạch trong cấp phép hoạt động khoáng sản; Tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước (tăng từ 10-20% giá trị so với khu vực không đấu giá), phát huy được tối đa tiềm năng khoáng sản của địa phương, nhằm đảm bảo khai thác sử dụng khoáng sản hiệu quả, tiết kiệm hơn. Hội đồng thẩm định tiền cấp quyền KTKS tỉnh đã tính, thẩm định và UBND tỉnh Thái Nguyên đã ban hành 155 Quyết định phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản với tổng số tiền phải nộp là 1.390,905 tỷ đồng, nộp nhiều lần (từ năm 2014 đến năm 2037).


Về cơ bản, các hoạt động khai thác khoáng sản đã đáp ứng được nguồn nguyên liệu cho các cơ sở chế biến và sử dụng khoáng sản phục vụ cho phát triển kinh tế trên địa bàn. Năm 2016-2017, các đơn vị khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh đã nộp ngân sách với tổng số tiền là 2.102,94 tỷ đồng. trong đó: thuế tài nguyên là 1.487,53 tỷ đồng, phí môi trường là 218,80 tỷ đồng, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản là 396,61 tỷ đồng. Ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường năm 2016 và 2017 với tổng số tiền là 32,275 tỷ đồng. Ngoài việc nộp ngân sách nhà nước, nhiều doanh nghiệp đã thực hiện tốt chính sách bảo hộ quyền lợi của nhân dân nơi có khoáng sản được khai thác, chế biến thông qua việc tuyển dụng lao động tại địa phương, hỗ trợ địa phương xây dựng, sửa chữa, nâng cấp cơ sở hạ tầng... Hoạt động khoáng sản đã tạo việc làm và thu nhập ổn định cho trên 12.000 lao động tại địa phương; đóng góp, hỗ trợ địa phương nâng cấp, sửa chữa, xây dựng cơ sở hạ tầng (đường giao thông, trạm điện, nhà tình nghĩa, nhà văn hoá, trường học,…) hỗ trợ tái định cư với trị giá trên 200 tỷ đồng.


Công tác BVMT ở tỉnh đã được quan tâm, nhận được sự tham gia tích cực của các cấp, ngành; nhiều vấn đề môi trường bức xúc, điểm “nóng” về môi trường được quan tâm giải quyết; mức độ ô nhiễm được kiềm chế, nhiều khu vực chất lượng môi trường đã được cải thiện; ngân sách chi cho công tác BVMT đã được tăng dần từ các nguồn chi sự nghiệp và thu phí BVMT, từng bước đáp ứng nhu cầu giải quyết các vấn đề môi trường ở các địa phương của tỉnh.


Qua 2 năm thực hiện Đề án, công tác khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu, cụm công nghiệp, khu vực khai thác khoáng sản, đô thị, nông thôn, làng nghề, lưu vực sông đã đạt được một số kết quả tích cực, cụ thể như: Hệ thống xử lý nước thải tập trung các khu công nghiệp tiếp tục từng bước được hoàn thiện, mở rộng nâng công suất. Hạ tầng BVMT các khu vực đô thị đã từng bước được đầu tư. Hệ thống tiêu thoát nước, xử lý nước thải của thành phố Thái Nguyên (khu vực phía Bắc) đã cơ bản hoàn thành, trạm xử lý nước thải công suất 8.000m3/ngày.đêm đã đi vào vận hành thử nghiệm cuối năm 2017; hệ thống tiêu thoát nước, xử lý nước thải khu vực phía nam hiện đang trong giai đoạn chuẩn bị thủ tục đầu tư. Cùng với quá trình xây dựng nông thôn mới, hạ tầng kỹ thuật môi trường nông thôn, làng nghề ngày càng đươc quan tâm. Việc thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt đã và đang được các huyện, thành phố, thị xã đầu tư theo hướng xã hội hóa. Công tác quản lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh được triển khai theo hướng công nghiệp, tập trung, phù hợp với quy hoạch quản lý chất thải vùng đã được UBND tỉnh phê duyệt; công nghệ lựa chọn theo hướng giảm dần lượng rác chôn lấp và thay thế bằng phương pháp hiện đại, ít ô nhiễm như đốt tập trung, điện rác. Một số địa phương đã đầu tư hệ thống lò đốt rác thải tập trung, để thay thế việc chôn lấp rác thải. Hiện nay, trên địa bàn toàn tỉnh đã quy hoạch 03 khu xử lý chất thải vùng, 6 khu xử lý chất thải cấp huyện, thu hút 17 dự án đầu tư, trong đó hiện có 4 dự án đã đi vào hoạt động trong lĩnh vực xử lý, đồng xử lý chất thải công nghiệp, nguy hại; 02 dự án đang tiến hành các hoạt động thi công, dự kiến đi vào hoạt động trong năm 2019.


Theo số liệu báo cáo của Sở Tài chính, Ngân sách chi cho công tác BVMT đã được tăng dần hàng năm từ các nguồn chi sự nghiệp và nguồn thu phí BVMT. Riêng từ nguồn phí BVMT trong khai thác khoáng sản, trong 2 năm 2016-2017 trên địa bàn toàn tỉnh đã thu được hơn 200 tỷ đồng; trong đó đã cấp lại cho các huyện hơn 150 tỷ đồng để triển khai 92 dự án về phòng ngừa, khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường tại các địa phương nơi có hoạt động khai thác khoáng sản.


Qua 02 năm thực hiện, hoạt động thanh tra, kiểm tra được tăng cường, đã giải tỏa, ngăn chặn được các hoạt động khai thác khoáng sản trái phép, giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc trên địa bàn toàn tỉnh: Trong 2 năm, đã tổ chức kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về khoáng sản đối với 79 mỏ/50 đơn vị hoạt động khoáng sản, xử phạt vi phạm hành chính là 419 triệu đồng đối với 05 đơn vị khai thác. Tổ chức kiểm tra, ngăn chặn, truy quét, giải toả các hoạt động khai thác khoáng sản trái phép trên địa bàn với tổng số các cuộc kiểm tra trên 200 cuộc. Xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền là trên 250 triệu đồng. Tổ chức hơn 500 cuộc thanh tra, kiểm tra định kỳ, đột xuất về việc chấp hành quy định pháp luật về BVMT, 130 cơ sở bị xử lý vi phạm hành chính về BVMT với số tiền phạt gần 6 tỷ đồng; trong đó đã có 14 vụ đổ thải, xả thải trái phép bị phát hiện và xử lý vi phạm với số tiền là 2,5 tỷ đồng.


Song song với công tác thanh tra, kiểm tra việc tổ chức việc ký cam kết trong thực hiện công tác quản lý TNKS giữa Chủ tịch UBND cấp xã với Chủ tịch UBND cấp huyện được thực hiện đã nâng cao trách nhiệm của chính quyền các cấp, UBND cấp huyện, cấp xã đã tích cực thực hiện các biện pháp để tăng cường công tác quản lý tài nguyên khoáng sản trên địa bàn quản lý.


Phương hướng và giải pháp trong thời gian tới

Đề án “Tăng cường công tác quản lý nhà nước về TNKS và BVMT trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2017-2020” với việc quy định cụ thể trách nhiệm của các cấp chính quyền, các sở, ngành có liên quan đang được thực hiện có hiệu quả, từng bước nâng cao hiệu lực công tác quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản và BVMT trên địa bàn. Để phát huy những kết quả đạt được và tiếp thu hoàn thành những nhiệm vụ đặt ra cũng như tháo gỡ khó khăn, vướng mắc gặp phải, đảm bảo lộ trình thời gian của Đề án, trong giai đoạn tiếp theo của đề án cần tập trung chỉ đạo, đôn đốc các ngành, các cấp rà soát, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ đã phân công trong đề án, trong đó trọng tâm là các nhiệm vụ, giải pháp sau:


Xây dựng kế hoạch tuyên truyền tổng thể cho giai đoạn từ nay đến 2020; tăng cường tổ chức các hoạt động tuyên truyền, các hội nghị trao đổi tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp trong thực hiện các quy định pháp luật về môi trường, khoáng sản. Thường xuyên tổ chức kiểm tra, kiểm soát xử lý các hoạt động khai thác, tàng trữ, vận chuyển, tiêu thụ khoáng sản trái phép; phối hợp chặt chẽ với Cục thuế tỉnh trong việc rà soát, đôn đốc, xử lý các đơn vị trong việc chấp hành thực hiện các nghĩa vụ tài chính, nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản...  Xây dựng, rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch để phù hợp với tình hình và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Nâng cao chất lượng công tác thẩm định, cấp phép môi trường; chủ động nắm bắt các dự án đầu tư mới để kịp thời đôn đốc, hướng dẫn chủ đầu tư thực hiện thủ tục ĐTM theo quy định, khắc phục tình trạng các dự án đầu tư mới bỏ qua thủ tục đánh giá tác động môi trường, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Tập trung nguồn lực để giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc như: xây dựng hạ tầng kỹ thuật môi trường về xử lý nước thải, rác thải tại các khu đô thị, nông thôn, KCN, xử lý chất thải chăn nuôi... Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về môi trường. Đẩy mạnh công tác thu phí BVMT, quan trắc, giám sát môi trường. Bố trí kinh phí, huy động các nguồn lực và quản lý việc sử dụng kinh phí để tổ chức xây dựng và triển khai các nhiệm vụ, dự án phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm môi trường, quản lý khoáng sản đã được phê duyệt trong Đề án.


Có thể nói, trong 2 năm đầu thực hiện Đề án mặc dù còn gặp phải những hạn chế , song với kết quả đạt được của Đề án, đã đóng góp quan trọng trong việc  quản lý khai thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên khoáng sản, đẩy mạnh kinh tế hóa và nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trong lĩnh vực khai thác khoáng sản, hạn chế và tiến tới chấm dứt tình trạng khai thác khoáng sản trái phép; tập trung giải quyết các vấn đề cấp bách về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh. Thông qua đó gió phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh theo hướng bền vững và hiệu quả.

Văn phòng sở